Quảng cáo
+ Trả Lời Ðề Tài
kết quả từ 1 tới 17 trên 17
  1. #1
    Tham gia
    Jun 2008
    Nơi ở
    Nam Định
    Tuổi
    27
    Bài viết
    2.181
    Like
    167
    Được 178 Like trong 73 bài viết

    Mặc định Hưng Đạo Đại vương - Trần Quốc Tuấn

    NHÀ TÀI TRỢ

  2. video game
  3. chimsedinang
  4. tin game
  5. random


  6. "Phen này không phá được giặc, thề không trở lại khúc sông này nữa. "


    Trần Quốc Tuấn
    Quê quán : làng Tức Mặc

    (Nam Định – Bắc Việt).

    Lễ kỷ niệm: 20/8 Âm lịch.

    "Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hăy chém đầu tôi trước đã."


    Trần Quốc Tuấn là một đại danh tướng của dân tộc, ba lần cầm quân đánh đuổi giặc Mông Cổ ra khỏi bờ cõi, bảo vệ nền tự chủ dài lâu cho nước nhà. Ông được phong tước Vương, tên Hưng Đạo nên dân ta thường kính cẩn gọi là Hưng Đạo Vương.

    Năm 1284, quân Mông Cổ tràn qua đánh ta lần thứ hai, Hưng Đạo Vương được vua Nhân Tông phong làm Tiết Chế thống lãnh toàn quân chống giặc.

    Giặc quá mạnh, Vương phải lui về Vạn Kiếp. Vào giai đoạn này, Vương đã để lại một câu nói bất hủ : "Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu tôi trước đã". Chính là nhờ câu nói quyết liệt này mà quân dân ta đại thắng mấy tháng sau đó.


    Năm 1287, Mông Cổ lại đem quân đánh ta lần thứ ba, quyết chí của mối nhục bại vong hai lần trước.

    Vua Nhân Tông nghe giặc sắp sang, lấy làm lo lắng, mời Hưng Đạo Vương đến, hỏi rằng:

    - Lần trước Thoát Hoan bại trận, chuyến này căm tức định sanh đánh báo thù, quân thế nó to hơn trước ta dùng kế gì mà chống lại được ?
    Vương thưa :
    - Nước ta xưa kia quân dân ta hưởng thái b́ình đã lâu, không tập đến việc chiến trận, cho nên năm trước khi giặc sang đánh, c̣òn có kẻ trốn tránh theo hàng giặc. May nhờ có oai linh Tổ tông và thần vũ của bệ hạ, đánh đâu được đấy, cho nên đã đánh đuổi được chúng ra khỏi bờ cõi. C̣òn như bây giờ, quân ta đã quen việc chinh chiến, mà quân giặc thì phải đi xa mỏi mệt. Vả lại, đã thấy Toa Đô, Lư Hằng, Lư Quán tử trận, tất cũng chột dạ. Quân lính đã sinh nghi sợ, hẳn không dám hết sức mà đánh.Theo thần, thì chuyến này ta phá giặc lại còn dễ hơn phen trước. Xin bệ hạ đừng lo.
    Vua nghe xong mừng rỡ, phó thác binh quyền cho Vương chống giặc.
    Lần này, quân Mông Cổ hết sức hung hăng. Nhưng sau cùng, trước sức kháng chiến dũng mãnh của toàn quân toàn dân ta, giặc mỗi ngày một nao núng, binh thua khắp nơi, bèn tìm cách để rút về.

    Hưng Đạo Vương thừa thế cho quân mở nhiều mặt phản công, mai phục đường về của giặc trên cả hai ngả thủy bộ.

    Tại sông Bạch Đằng, Vương cho đóng cọc sắt nhọn ở thượng lưu, trên phủ bè cỏ, rồi chờ nước thủy triều lên thì ra khiêu chiến, dụ giặc qua chỗ đóng cọc, rồi khi thủy triều xuống, quay lại đánh bổ vào đầu chúng.

    Việc bố trí xong xuôi, Vương bèn hô tướng sĩ cùng trỏ tay xuống sông Hóa mà thề rằng :

    Phen này không phá được giặc, thề không trở lại khúc sông này nữa.

    Quân sĩ ai nấy nức lương tử chiến, kéo một mạch đến Bạch Đằng Giang, hẹn nhau giết giặc trong một trận thủy chiến lương danh của đất nước.

    Ngoài kỳ tài dụng binh, Hưng Đạo Vương còn là một người thông minh uyên bác, thuộc làu kinh sử, hiểu rành mưu lược, thông suốt thiên văn địa lí. Vương đã soạn thảo bộ "Binh Thư Yếu Lược" và bộ "Vạn Kiếp Bí Truyền" để dạy các tướng sĩ cách tác chiến, dùng mưu, v.v…

    Như khi quân Mông Cổ sanh đánh lần thứ hai, Vương chống giữ mặt Bắc không nổi, phải lui binh về Vạn Kiếp. Tại đây, Vương chiêu tập các đạo, hội được hơn 20 vạn, rồi ban Hịch Tướng Sĩ, lời lẽ vô cùng thắm thiết và hùng tráng khiến tướng sĩ nghe xong, sôi máu căm thù, rồi thích vào cánh tay hai chữ "Sát Đát", có nghĩa là quyết giết quân Mông Cổ. Phần chót của bài hịch có những đọan như sau :

    "Nay các ngươi thấy chủ bị nhục mà không biết lo, trông thấy quốc sĩ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ mà không biết căm; hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển, hoặc ham về săn bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát. Nếu có giặc đến, thì cựa gà trống sao đâm cho thủng được áo giáp; mẹo cờ bạc sao dùng cho nổi việc quân mưu; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, thân ấy nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ b́u con díu, nước này trăm sự nghĩ sao; tiền của đâu mà mua cho được đầu giặc; *** săn ấy thì sao địch nổi quân thù; chén rượu ngon không làm được cho giặc say chết, tiếng hát hay không làm được cho giặc điếc tai; khi bấy giờ chẳng những là thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc của các ngươi cũng hết; chẳng những là gia quyến của ta bị đuổi, mà vợ con của các ngươi cũng nguy; chẳng những là ta chịu nhục bây giờ, mà trăm năm về sau, tiếng xấu hăy còn mãi mãi; mà gia thanh của các ngươi cũng chẳng khỏi mang tiếng nhục, đến lúc bấy giờ các người dẫu muốn vui vẻ, phỏng có được hay không?

    Nay ta bảo thật các ngươi : nên cẩn thận như nơi củi lửa, nên giữ gìn như kẻ húp canh, dạy bảo quân sĩ, luyện tập cung tên, khiến cho người nào cũng có sức khỏe như Bành Mông, Hậu Nghệ, thì mới có thể dẹp tan được quân giặc, mà lập nên được công danh. Chẳng những là thái ấp của ta được vững bền, mà các ngươi cũng đều được hưởng bổng lộc, chẳng những là gia quyến của ta được yên ổn, mà các ngươi cũng đều được vui với vợ con, chẳng những là tiên nhân ta được vẻ vang, mà các ngươi cũng được phụng thờ tổ phụ, trăm năm vinh hiển, chẳng những là một ḿnh ta được sung sướng, mà các ngươi cũng được lưu truyền sử sách, ngh́n đời thơm tho; đến bây giờ các ngươi dầu không vui vẻ, cũng tự khắc được vui vẻ.

    Nay ta soạn hết các binh pháp của các nhà danh gia hợp lại làm một quyển gọi là "Binh Thư Yếu Lược". Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời dạy bảo, th́ mới phải đạo thần tử, nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo, th́ tức là kẻ nghịch thù.

    Bởi cớ sao? Bởi giặc Nguyên cùng ta là kẻ thù không đội trời chung, thế mà các ngươi cứ điềm nhiên không nghĩ đến việc báo thù, lại không biết dạy quân sĩ, khác nào như quay ngọn dáo mà đi theo kẻ thù, giơ tay không mà chịu thua quân giặc, khiến cho sau trận Bính Lỗ mà ta phải chịu tiếng xấu muôn đời, thì còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa.

    Vậy nên ta phải làm ra bài hịch này để cho các ngươi biết bụng ta".

    Hưng Đạo Vương là con của An Sinh Vương Trần Liễu, cháu gọi Trần Thái Tông (Trần Cảnh) là chú. Khi mới chuyển ngôi từ nhà Lư qua Trần Cảnh, giữa Trần Liễu và Trần Cảnh đă có chuyện xung đột và Trần Liễu dặn Vương phải trả mối thù cho ḿnh. Hưng Đạo Vương biết đặt quyền lợi của xă tắc lên trên mối tư thù mà chung thủy suốt cả bốn đời vua là Trần Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, đến Anh Tông. Quyền bính trong tay và công lao trùm đời mà không bao giờ Vương có ư cậy công hay kiêu căng làm loạn nước.

    Hưng Đạo Vương làm quan đến đời vua Anh Tông th́ xin về trí sĩ ở Vạn Kiếp và mất ở đó vào ngày 20 tháng 8 năm Canh Tư (1300). Ông là một đại tướng đă đối đầu quân Mông Cổ trong cả ba lần chúng xâm lăng nước ta.

    hỏi đáp, Vào Omua.vn để đăng tin rao vặt miễn phí tại có thể đặt link

    Xem thêm bài viết ngẫu nhiên cùng chủ đề:

    Nên:
    * Đoàn kết giúp đỡ cùng nhau phát triển ngôi nhà chung 2TND.
    * Cám ơn nếu bạn cảm thấy bài viết của một thành viên nào đó có ích cho mình.
    * Chia sẻ những điều bạn biết trên tinh thần học hỏi và giúp đỡ những thành viên khác.
    * Trích nguồn gốc bài viết nếu bài viết không phải của bạn.

  7. #2
    Tham gia
    Aug 2008
    Nơi ở
    Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh
    Tuổi
    26
    Bài viết
    1.632
    Like
    8
    Được 55 Like trong 45 bài viết

    Mặc định

    Trần Hưng Đạo - ông đã được ví như 1 vị thánh sống của dân tộc, là niềm tự hào của Thiên Trường.
    Ngoài ra, theo tôi được biết thì ông cũng là 1 trong 10 vị tướng huyền thoại của TG, sánh với Alexsander đại đế về nghĩa khí và lòng quả cảm của 1 vị Đại tướng quân.

  8. #3
    Tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    36
    Like
    0
    Được 0 Like trong 0 bài viết

    Mặc định

    Admin ơi có thể nói rõ hơn quê quán của Trần Hưng Đạo không ?
    Trai ngân hàng : Cần:cần cù chịu khó. Phải: luôn đứng về lẽ phải. Nhẫn:nhẫn lại trong công việc. Tâm :Luôn giữ tâm hồn trong sáng..Kết luận : Trai ngân hàng :Cần Phải Nhẫn Tâm

  9. #4
    Tham gia
    Aug 2008
    Nơi ở
    Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh
    Tuổi
    26
    Bài viết
    1.632
    Like
    8
    Được 55 Like trong 45 bài viết

    Mặc định

    Trích Nguyên văn bởi phamanhpro Xem bài viết
    Admin ơi có thể nói rõ hơn quê quán của Trần Hưng Đạo không ?
    Nguyên quán của Trần Hưng Đạo là ở làng Tức Mạc, Nam Định.
    Nguyễn Viết Thái (1987, Tp.Nam Định)
    Đc: Quận 1, Tp.HCM
    Cv: AGRIBANK - tín dụng doanh nghiệp
    Liên lạc: viet_thai_net@yahoo.com




  10. #5
    Tham gia
    Jan 2009
    Nơi ở
    TP Nam Định
    Tuổi
    27
    Bài viết
    400
    Like
    0
    Được 8 Like trong 8 bài viết

    Mặc định Tiểu Sử Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn

    Trần Quốc Tuấn (1228-1300) là một danh nhân quân sự cổ kim của thế giới.

    Ngay từ nhỏ, Trần Liễu đã kén những thầy giỏi dạy cho Quốc Tuấn, ký thác cho con hội đủ tài võ, mong trả mối thù sâu nặng năm nào.

    Lớn lên Quốc Tuấn càng tỏ ra thông minh, xuất chúng, đọc rộng các sách cả văn lẫn võ. Trong đời mình Quốc Tuấn đã trải qua một lần gia biến, ba lần nạn nước. Nhưng ông lại càng tỏ ra là người hiền tài, một vị anh hùnh cứu nước. Ông luôn đặt lợi nước lên trên thù nhà, vun trồng cho khối đoàn kết giữa tông tộc họ Trần, tạo cho thế nước ở đỉnh cao muôn trượng đủ sức đè bẹp quân thù. Trong lần quân Nguyên sang xâm lược lần thứ ha, thấy rõ ngành trưởng, ngành thứ xung khắc, giữa ông và Trần Quang Khải không chung sức chung lòng thì kẻ thù có lợi chỉ có thể là quân giặc. Bởi vậy, Quốc Tuấn đã chủ động giao hảo hòa hiếu với Trần Quang Khải, tạo nên sự thống nhất ý chí của toàn bộ vương triều Trần, đảm bảo đánh thắng quân Nguyên hùng mạnh.

    Chuyện kể rằng, một lần ở biển Đông, Quốc Tuấn mời Thái sư Trần Quang Khải sang thuyền mình trò chuyện chơi cờ và sai người nấu nước thơm tự mình tắm rửa cho Trần Quang Khải, vĩnh viễn xóa nỗi hiềm khích giữa hai người, đầu mối của hai chi họ Trần (Quốc Tuấn là con Trần Liễu, Quang Khải là con Trần Cảnh). Lần khác, Quốc Tuấn đem việc xích mích dò ý các con, Trần Quốc Tảng có ý kích ông nên cướp ngôi chi thứ. Ông nổi giận rút gươm toan chém chết Quốc Tảng. May nhờ các con và những người tâm phúc van xin, ông bớt giận dừng gươm nhưng bảo rằng:

    Từ nay cho tới khi ta nhắm mắt, ta sẽ không nhìn mặt thằng nghịch tử, phản thần này nữa.
    Trong kháng chiến, ông luôn hộ giá bên vua, tay chống gậy bịt sắt. Dư luận xì xào sợ Ông giết vua,. Ông liền bỏ luôn phần bịt sắt, chỉ chống gậy để tránh hiềm nghi, làm yên lòng quân dân.

    Ba lần chống giặc, các vua Trần đều giao cho ông quyền Tiết chế (Tổng tư lệnh quân đội) vì ông biết dùng người tài, thương yêu binh lính, do vậy tướng sĩ hết lòng tin yêu ông. Đạo quân cha con ấy trở thành đội quân bách chiến bách thắng.

    Trần Quốc Tuấn là bậc tướng trụ cột của triều đình. Ông đã soạn hai bộ binh thư: Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp Tông bí truyền thư dể răn dạy các tướng cầm quân đánh giặc. Khi giặc Nguyên lộ rõ ý đồ xâm lược, Trần Quốc Tuấn viết Hịch tướng sĩ, truyền lệnh cho các tướng, dạy bảo họ lẽ thắng trận, tiến lui. Hịch tướng sĩ rất hùng hồn, thống thiết, khẳng định văn trương của một bậc "đại bút".

    Trần Quốc Tuấn là một bậc tướng gồm đủ tài đức.

    Là tướng nhân, ông thương dân thương quân, chỉ cho họ con đường sáng.
    Là tướng nghĩa, ông coi việc phải hơn điều lợi.
    Là tướng trí, ông biết lẽ đời sẽ dẫn tới đâu.
    Là tướng dũng, ông xông pha nơi nguy hiyểm để đánh giặc, tạo những trận như Bạch Đằng oanh liệt nghìn đời.
    Là tướng tín, ông bày tỏ trước cho quân lính theo ông sẽ được gì, trái lời ông thì gặp họa. Cho nên, cả 3 lần đánh giặc Nguyên, ông đều được giao trọng trách điều bát binh mã và đều lập công lớn.

    Hai tháng trước khi mất, vua Anh Tông đến thăm và hỏi:

    Nếu chẳng may ông mất đi, giặc phương Bắc lại sang xâm lấn thì kế sách làm sao?
    ông đã trăng trối những lời tâm huyết, sâu sắc, đúng cho mọi thời đại:

    - Thời bình phải khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách giữ nước.

    Mùa thu tháng Tám, ngày 20 năm Canh Tý (1300), "Bình Bắc đại nguyên soái" Hưng Đạo đại vương qua đời. Theo lời ông dặn, thi hài ông được hỏa táng thu vào bình đồng chôn trong vườn An Lạc, gần cánh rường An Sinh, không xây lăng mộ, đất san phẳng, trồng cây như cũ. Vua gia phong cho ông tước Hưng Đạo đại vương. Triều đình lập đền thờ ông tại Vạn Kiếp, Chí Linh, phong ấp của ông lúc sinh thời.
    __________________
    Có những ngày tuyệt vọng cùng cực, tôi và cuộc đời đã tha thứ cho nhau. Từ buổi con người sống quá rẻ rúng, tôi biết rằng vinh quang chỉ là điều dối trá. Tôi không còn gì để chiêm bái ngoài nỗi tuyệt vọng và lòng bao dung. Hãy đi đến tận cùng của tuyệt vọng để thấy tuyệt vọng cũng đẹp như một bông hoa. Tôi không muốn khuyến khích sự khổ hạnh, nhưng mỗi chúng ta hãy thử sống cùng một lúc vừa kẻ chiến thắng vừa kẻ chiến bại. Nỗi vinh nhục đã mang ta ra khỏi đời sống để đưa đến những đấu trường

  11. Like anhdaduyen vì nội dung bài viết hay:

    h2c (08-25-2010)

  12. #6
    Tham gia
    May 2009
    Bài viết
    1
    Like
    0
    Được 0 Like trong 0 bài viết

    Thumbs up Danh nhân đất Nam Định

    [TEX]

    Hưng Đạo đại vương - Trần Quốc Tuấn - Một anh hùng dân tộc

    Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn
    Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo) là anh hùng dân tộc, nhà văn hóa vĩ đại trong lịch sử Việt Nam. Làm tướng, ông biết dẹp bỏ "thù nhà" dốc lòng báo đền "nợ nước" góp công lớn ba lần đánh bại quân Nguyên. Ông còn là tác giả của hai bộ binh thư và đặc biệt bài "Hịch tướng sĩ" nổi tiếng còn lưu truyền đến ngày nay. Sau khi ông mất, vua phong ông tước Hưng Đạo đại vương, lập đền thờ ông ở Vạn Kiếp, Chí Linh (Hải Dương).
    Sinh năm 1228, Trần Quốc Tuấn ra đời khi họ Trần vừa thay thế nhà Lý làm vua trong một đất nước đói kém, loạn ly. Trần Thủ Độ, một tôn thất tài giỏi đã xếp đặt bày mưu giữ cho thế nước chông chênh thành bền vững. Bấy giờ Trần Cảnh còn nhỏ mới 11 tuổi, vợ là Lý Chiêu Hoàng, vị vua cuối cùng của dòng họ Lý. Vì nhường ngôi cho chồng nên trăm họ và tôn thất nhà Lý dị nghị nhà Trần cướp ngôi. Trần Thủ Độ rất lo lắng. Bấy giờ Trần Liễu, anh ruột vua Trần Cảnh lấy công chúa Thuận Thiên, chị gái Chiêu Hoàng đang có mang. Trần Thủ Độ ép Liễu nhường vợ cho Cảnh để chắc có một đứa con cho Cảnh. Liễu nổi loạn. Thủ Độ dẹp tan nhưng tha chết cho Liễu. Song điều này không dẹp nổi lòng thù hận của Liễu. Vì thế Liễu kén thầy giỏi dạy cho con trai mình thành bậc văn võ toàn tài, ký thác vào con mối thù sâu nặng. Người con trai ấy chính là Trần Quốc Tuấn.


    Thuở nhỏ, có người đã phải khen Quốc Tuấn là bậc kỳ tài. Khi lớn lên, Trần Quốc Tuấn càng tỏ ra thông minh xuất chúng, thông kim bác cổ, văn võ song toàn. Trần Liễu thấy con như vậy mừng lắm, những mong Quốc Tuấn có thể rửa nhục cho mình. Song, cuộc đời Trần Quốc Tuấn trải qua một lần gia biến, ba lần quốc nạn và ông đã tỏ ra là một bậc hiền tài. Thù nhà ông không đặt lên trên quyền lợi dân nước, xã tắc. Ông đã biết dẹp thù riêng, vun trồng cho mối đoàn kết giữa tông tộc họ Trần khiến cho nó trở thành cội rễ của đại thắng. Bấy giờ quân Nguyên sang xâm chiếm Việt Nam. Trần Quốc Tuấn đã giao hảo hòa hiếu với Trần Quang Khải. Hai người là hai đầu mối của hai chi trong họ Trần, đồng thời một người là con Trần Liễu, một người là con Trần Cảnh, hai anh em đối đầu của thế hệ trước. Sự hòa hợp của hai người chính là sự thống nhất ý chí của toàn bộ vương triều Trần, đảm bảo đánh thắng quân Nguyên hung hãn.

    Chuyện kể rằng: thời ấy tại bến Đông, ông chủ động mời Thái sư Trần Quang Khải sang thuyền mình trò chuyện, chơi cờ và sai nấu nước thơm tự mình tắm rửa cho Quang Khải... Rồi một lần khác, ông đem việc xích mích trong dòng họ dò ý các con, Trần Quốc Tảng có ý khích ông cướp ngôi vua của chi thứ, ông nổi giận định rút gươm toan chém chết Quốc Tảng. Do các con và những người tâm phúc xúm vào van xin, ông bớt giận dừng gươm nhưng bảo rằng: Từ nay cho đến khi ta nhắm mắt, ta sẽ không nhìn mặt thằng nghịch tử, phản thầy này nữa! Trong chiến tranh, ông luôn hộ giá bên vua, tay chỉ cầm cây gậy bịt sắt. Thế mà vẫn có lời dị nghị, sợ ông sát vua. Ông bèn bỏ luôn phần gậy bịt sắt, chỉ chống gậy không khi gần cận nhà vua. Và sự nghi kỵ cũng chấm dứt. Giỏi tâm lý, chú ý từng việc nhỏ để tránh hiềm nghi, yên lòng quan để yên lòng dân, đoàn kết mọi người vì nghĩa lớn dân tộc. Một tấm lòng trung trinh son sắt vì vua, vì nước.

    Vua giao quyền tiết chế cho Trần Quốc Tuấn. Ông biết dùng người tài như các anh hùng Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng... đều từ cửa tướng của ông mà ra. Ông rất thương binh lính, và họ cũng rất tin yêu ông. Đội quân cha con ấy trở thành đội quân bách thắng.

    Trần Quốc Tuấn là một bậc tướng "cột đá chống trời". Ông đã soạn hai bộ binh thư: "Binh thư yếu lược", và "Vạn Kiếp tông bí truyền thư" để dạy bảo các tướng cách cầm quân đánh giặc. Trần Khánh Dư, một tướng giỏi cùng thời đã hết lời ca ngợi ông: "... Lấy ngũ hành cảm ứng với nhau, cân nhắc cửu cung, không lẫn âm dương...". Biết dĩ đoản binh chế trường trận, có nghĩa là lấy ngắn chống dài. Khi giặc lộ rõ ý định gây hấn, Trần Quốc Tuấn truyền lệnh cho các tướng, răn dạy chỉ bảo lẽ thắng bại tiến lui. Bản Hịch tướng sĩ viết bằng giọng văn thống thiết hùng hồn, mang tầm tư tưởng của một bậc "đại bút".

    Trần Quốc Tuấn là một bậc tướng tài có đủ tài đức. Là tướng nhân, ông thương dân, thương quân, chỉ cho quân dân con đường sáng. Là tướng nghĩa, ông coi việc phải hơn điều lợi. Là tướng chí, ông biết lẽ đời sẽ dẫn đến đâu. Là tướng dũng, ông sẵn sàng xông pha vào nơi nguy hiểm để đánh giặc, lập công, cho nên trận Bạch Đằng oanh liệt nghìn đời là đại công của ông. Là tướng tín, ông bày tỏ trước cho quân lính biết theo ông thì sẽ được gì, trái lời ông thì sẽ bị gì. Cho nên cả ba lần đánh giặc Nguyên Mông, Trần Quốc Tuấn đều lập công lớn.

    Hai tháng trước khi mất, vua Anh Tông đến thăm lúc ông đang ốm, có hỏi:

    Nếu chẳng may ông mất đi, giặc phương Bắc lại sang xâm lấn thì kế sách làm sao?

    Ông đã trăn trối những lời cuối cùng, thật thấm thía và sâu sắc cho mọi thời đại dựng nước và giữ nước:

    Thời bình phải khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách giữ nước.

    Mùa thu tháng Tám, ngày 20, năm Canh Tý, Hưng Long thứ 8 (1300) "Bình Bắc đại nguyên soái" Hưng Đạo đại vương qua đời. Theo lời dặn lại, thi hài ông được hỏa táng thu vào bình đồng và chôn trong vườn An Lạc, giữa cánh rừng An Sinh miền Đông Bắc, không xây lăng mộ, đất san phẳng, trồng cây như cũ...

    Khi ông mất (1300), vua phong ông tước Hưng Đạo đại vương. Triều đình lập đền thờ ông tại Vạn Kiếp, Chí Linh, ấp phong của ông thuở sinh thời. Công lao sự nghiệp của ông khó kể hết . Vua coi như bậc trượng phu, trăm họ kính trọng gọi ông là Hưng Đạo đại vương.

    Trần Hưng Đạo là một anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa Việt Nam.

    Dân gian có câu: "Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ" là để nói về hai lễ hội lớn về hai vị thánh: Đức thánh Trần Hưng Đạo và Đức thánh Mẫu Liễu Hạnh.
    Vị anh hùng được nhân dân phong Thánh.

    Tượng thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn tại đền Trần Thương (Hà Nam).
    Ngày 20.8 âm lịch năm nay (21.9.2008) là giỗ lần thứ 708 Đức Thánh Trần Hưng Đạo. Mỗi kỳ giỗ Đức Thánh, dân tộc VN ta lại có dịp nhắc lại công đức vị anh hùng kiệt xuất được nhân dân phong Thánh.
    Trần Hưng Đạo không chỉ kiệt xuất về quân sự mà còn có đạo đức vĩ đại của một chủ tướng. Thánh Trần là tấm gương sáng ngời về lòng trung nghĩa, gạt bỏ hiềm khích riêng tư để đoàn kết tông thất, triều đình, tướng lĩnh, tạo nên cội nguồn thắng lợi. Ngài dùng người hiền lương, chọn và đào tạo tướng giỏi, trọng dụng, tiến cử người tài đức giúp nước, quý trọng người cộng sự, thương yêu binh lính... Nhờ đó "đội quân phụ tử" của danh tướng họ Trần trở thành đội quân bách thắng. Lịch sử đời đời ghi nhớ chiến tích của vị anh hùng kiệt xuất... Ngoài quân sự, Hưng Ðạo Ðại Vương còn để lại cho dân tộc VN tư tưởng chính trị tiến bộ và tài thao lược bất hủ - để đời này sang đời khác, dân tộc ta luôn vận dụng và đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược.
    Đức thánh Trần Hưng Đạo được nhân dân khắp mọi nơi trên cả nước lập đền thờ, ghi nhớ công đức. Ngày giỗ Đức thánh được tổ chức khắp nơi, thậm chí cả ở nước ngoài, có người Việt sinh sống
    Đền Kiếp Bạc

    Đền Kiếp Bạc
    Đền Kiếp Bạc là nơi thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn thuộc xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh. Lễ hội được tổ chức vào 18.8 âm lịch hàng năm. Khu di tích có Tam Quan (Linh Môn), Thành các, Tiền tế, Hậu cung, núi Nam Tào, núi Bắc Đẩu, núi Dược Sơn... in đậm dấu ấn về một thời lịch sử oai hùng "Vạn Kiếp núi lồng hình kiếm dựng. Lục Đầu vang dội tiếng quân reo".
    Đất nước thanh bình Trần Hưng Đạo vẫn sống ở Kiếp Bạc. Ngày 20.8 năm Canh Tý (nhằm 05.9.1300) Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn mất tại tư dinh. Trước khi qua đời ông đă dặn lại vua Trần "Khoan thư sức dân là kế sâu gốc, bền rễ, đó là thượng sách giữ nước". Sau khi ông mất, triều đình phong tặng ông là Thái sư Thượng phụ Quốc công tiết chế Nhân võ Hưng Đạo Đại Vương và cho lập đền thờ ông trên nền Vương phủ gọi là đền Kiếp Bạc. Nhân dân Việt Nam suy tôn gọi ông là Đức Thánh Trần, được công nhận là một trong mười vị tướng tài của thế giới.
    Hội mùa thu ở Côn Sơn - Kiếp Bạc là kỳ lễ hội chính kỷ niệm ngày mất của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, đồng thời người đi lễ cũng đến Côn Sơn thắp hương tưởng niệm anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi tạo thành sự hợp nhất giữa hai di tích trong kỳ lễ hội.
    Lễ "giỗ trận" Bạch Đằng
    Ở xã Yên Giang, Yên Hưng, Hà Nam có đền Trần Hưng Đạo, là nơi thờ người anh hùng dân tộc với sự kiện chiến thắng Bạch Đằng vĩ đại năm 1288. Ngày nay đền Trần Hưng Đạo trở thành trung tâm lễ hội Bạch Đằng.
    Theo sử sách: sáng ngày 09.4.1288 (tức mồng 8 tháng 3 năm Mậu Tý) chính tại nơi đây, bên sông Bạch Đằng, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã lập nên chiến công chói ngời nhất lịch sử nước ta: tiêu diệt và bắt sống hàng vạn tên xâm lược, hàng trăm chiến thuyền, bắt sống Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, đập tan ý đồ xâm lược của quân Nguyên Mông. Ghi nhớ chiến công, tưởng nhớ người anh hùng Trần Hưng Đạo, dân làng An Hưng (nay là Yên Giang) lập đền thờ Ngài bên dòng Bạch Đằng.

    Đền Trần Hưng Đạo xã Yên Giang, Yên Hưng, Hà Nam
    Trần Hưng Đạo sống là người, thác là thánh. Trong đền này còn giữ được nhiều sắc phong của các vua nhà Nguyễn như Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân phong Trần Hưng Đạo làm Thượng đẳng thần. Các đạo sắc đều ca ngợi chiến công, oai linh, đức độ giúp dân giúp nước của Trần Hưng Đạo. Sắc của vua Tự Đức năm thứ 6 (1854) có đoạn: "Trần Hưng Đạo Đại Vương có công giúp nước, cứu dân, oai linh lẫm liệt, cảm ứng cả trời đất, được nhân dân sùng bái"...

    Đền thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo ở đường Phan Châu Trinh – TP Huế.
    Bên cạnh đền Trần Hưng Đạo là miếu Vua Bà, tương truyền có từ thời Trần. Người dân lập miếu để thờ bà hàng nước đã cho biết giờ thủy triều lên xuống để danh tướng nhà Trần liệu kế đánh giặc. Thú vị là đền thờ của một bà hàng nước lại được người dân suy tôn là Vua Bà và được đặt bên cạnh bậc vương gia Trần Hưng Đạo được suy tôn là Thánh!

    Đền thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo ở Q1 TP.HCM
    Hàng năm đến ngày lễ hội của đền Trần, nhân dân trong vùng và các nơi lại kéo về dự hội, thắp hương tưởng nhớ công ơn của Trần Hưng Đạo mà dân gian từ lâu đã tôn kính gọi là Đức Thánh Trần. Ngày hội chính của đền là mồng 8 tháng 3 âm lịch, là ngày diễn ra chiến thắng Bạch Đằng năm xưa, người dân Yên Hưng vẫn gọi đây là ngày "giỗ trận". Ngày "giỗ trận" có cả phần lễ và phần hội: đu quay, chọi gà, đánh vật, cờ người, cờ tướng... và, tất nhiên, không thể thiếu môn đua thuyền trên sông Bạch Đằng. Dân Hà Nam, từ già đến trẻ nô nức đi xem hội.
    Di tích đền Trần Hưng Đạo - miếu Vua Bà đã được Bộ văn hoá thông tin xếp hạng là di tích lịch sử theo quyết định số 100/HQĐ ngày 21.1.1989.
    :JFDBQ00002070427A:^^

  13. #7
    Tham gia
    Aug 2010
    Nơi ở
    tp.hcm
    Bài viết
    64
    Like
    4
    Được 2 Like trong 2 bài viết

    Mặc định

    ông Tổ đất Hải Hậu là cụ Trần Vu- cháu 13 đời của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.
    Nếu một mai trên đường đời vấp ngã
    Xin Mẹ hiền thứ lỗi cho con !

  14. #8
    Tham gia
    Apr 2011
    Bài viết
    212
    Like
    0
    Được 0 Like trong 0 bài viết

    Mặc định

    Bóc tem

  15. #9
    Tham gia
    Apr 2011
    Bài viết
    174
    Like
    0
    Được 1 Like trong 1 bài viết

    Mặc định

    Thanks

  16. #10
    Tham gia
    Apr 2011
    Bài viết
    198
    Like
    0
    Được 0 Like trong 0 bài viết

    Mặc định

    Cheer

  17. #11
    Tham gia
    Apr 2011
    Bài viết
    210
    Like
    0
    Được 1 Like trong 1 bài viết

    Mặc định

    Thanks !!!

  18. #12
    Tham gia
    Apr 2011
    Bài viết
    184
    Like
    0
    Được 0 Like trong 0 bài viết

    Mặc định

    Chia sẻ thêm nhé bạn

  19. #13
    Tham gia
    Apr 2011
    Bài viết
    188
    Like
    0
    Được 0 Like trong 0 bài viết

    Mặc định

    Cám ơn

  20. #14
    Tham gia
    Apr 2011
    Bài viết
    213
    Like
    0
    Được 0 Like trong 0 bài viết

    Mặc định

    Hay, hay, hay...

  21. #15
    Tham gia
    Apr 2011
    Bài viết
    204
    Like
    0
    Được 0 Like trong 0 bài viết

    Mặc định

    Bài viết hay quá

  22. #16
    Tham gia
    Apr 2011
    Bài viết
    189
    Like
    0
    Được 1 Like trong 1 bài viết

    Mặc định

    Đang down

  23. #17
    Tham gia
    May 2011
    Bài viết
    7
    Like
    0
    Được 2 Like trong 2 bài viết

    Mặc định

    Ông ơi ! Trần Hưng Đạo không sinh ra ở Nam Định đâu.............................mà ở Kinh Thành Thăng Long, sau này về lập ấp ở Kiếp Bạch - Chí Linh - Hải Dương.
    Câu nói "Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hăy chém đầu tôi trước đã." là của Thái Sư Trần Thủ Độ đấy ông ạ !


 
+ Trả Lời Ðề Tài

Người dùng tìm kiếm trang này bằng các từ khóa:

http://traitimnamdinh.net/showthread.php?t=30

nghi luan ve tran quoc tuan

Gioi thieu ve doan trich Hung Dao dai vuong tran quoc tuan

Soan van bai hung dao dai vuong tran quoc tuan

Chọn lọc game danh bai hay năm 2014, trang wap tai zalo cho di động, Nokia X tai viet nam, Xem tin tuc 24h qua, M88, bình sữa pigeon, tin tức, 24h Tinmoi.vn, tin tức hàng ngày, Doc bao, Đọc tin tức 24h mới, Tai iWin, instagram followers, instagram followers, instagram followers, LH đặt textlink yahoo: nguyentronghvq (70k/tháng)